Hiển thị các bài đăng có nhãn kệ chứa hàng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kệ chứa hàng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2012

Giới thiệu về tiêu chuẩn JIS

Giới thiệu về tiêu chuẩn JIS (Japanese Industrial Standards)
NavaVina xin giới thiệu tới các bạn chuẩn JIS - Các nguyên vật liệu làm nên sản phẩm kệ chứa hàng của NavaVina được sản xuất theo tiêu chuẩn Nhật Bản (chuẩn JIS).
Tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản (Japanese Industrial Standards-JIS) (日本工业规格, Nippon Kogyo Kikaku ? ) quy định rõ tiêu chuẩn được sử dụng cho các hoạt động công nghiệp tại Nhật Bản .Quá trình chuẩn hóa được điều phối bởi Uỷ ban Tiêu chuẩn Công nghiệp Nhật Bản và xuất bản thông qua Hiệp hội tiêu chuẩn Nhật Bản .
Trong thời kỳ Minh Trị , doanh nghiệp tư nhân được trách nhiệm làm cho các tiêu chuẩn mặc dù chính phủ Nhật Bản đã có các tiêu chuẩn và các tài liệu đặc tả kỹ thuật cho các mục đích mua sắm cho những bài viết nào đó, chẳng hạn như vũ khí.
Chúng được tóm tắt để tạo thành một tiêu chuẩn chính thức (cũ JES ) vào năm 1921.Trong Chiến tranh thế giới II , tiêu chuẩn đơn giản hóa đã được thành lập để tăng Materiel (tiếng Pháp) đầu ra.
Người Nhật hiện nay Hiệp hội tiêu chuẩn được thành lập sau khi Nhật thất bại ở Thế chiến II năm 1945.Các Ủy ban Tiêu chuẩn Công nghiệp Nhật Bản quy định đã được ban hành vào năm 1946, tiêu chuẩn Nhật Bản (JES mới) được thành lập.
Luật Tiêu chuẩn công nghiệp được ban hành vào năm 1949, mà hình thức cơ sở pháp lý cho các tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản hiện nay (JIS).
Luật Tiêu chuẩn công nghiệp đã được sửa đổi năm 2004 và đánh dấu "JIS" (sản phẩm chứng nhận hệ thống) đã được thay đổi, và JIS mới nhãn hiệu đã được áp dụng kể từ ngày 01 tháng 10 2005 khi tái xác nhận. Các nhãn hiệu cũ có được phép sử dụng cho đến ngày 30 tháng chín 2008, trong một thời gian chuyển tiếp của 3 năm, và mỗi sản xuất mới hoặc đổi mới có được chứng nhận theo phê duyệt của cơ quan này sau đó có thể sử dụng nhãn hiệu JIS mới.Vì vậy tất cả các sản phẩm được chứng nhận tiêu chuẩn JIS của Nhật Bản có các nhãn hiệu JIS mới sau khi 1 tháng mười 2008.
Trích dẫn:
Tiêu chuẩn được đặt tên như "JIS" 0208:1997 X, trong đó X là ký hiệu phân chia khu vực, tiếp theo là bốn chữ số (hoặc năm chữ số cho một số các tiêu chuẩn tương ứng theo tiêu chuẩn ISO tiêu chuẩn), và phát hành bản sửa đổi năm.Các đơn vị hành JIS và tiêu chuẩn quan trọng là: * A – Civil Engineering and Architecture A - Xây dựng và Kiến trúc
* B – Mechanical Engineering B - Cơ
* C – Electronic and Electrical Engineering C - Điện tử và Điện
* D – Automotive Engineering D - Kỹ thuật ô tô
* E – Railway Engineering E - Cơ khí đường sắt
* F – Shipbuilding F - Đóng tàu
* G – Vật liệu sắt và luyện kim
* H – Vật liệu loại màu và luyện kim
* K – Chemical Engineering K - Hoá học
* L – Textile Engineering L - Kỹ thuật Dệt may
* M – Mining M - Khai khoáng
* P – Pulp and Paper P - Giấy và Bột Giấy
* Q – Management System Q - Hệ thống quản lý
* R – Ceramics R - Gốm sứ
* S – Domestic Wares S - wares trong nước
* T – Medical Equipment and Safety Appliances T - Trang thiết bị y tế và các thiết bị an toàn
* W – Aircraft and Aviation W - Máy bay và hàng không
* X – Information Processing X - xử lý thông tin
* Z – Miscellaneous Z - Miscellaneous

Thứ Sáu, 11 tháng 5, 2012

Giải pháp quản trị chuỗi cung ứng(p3)

Nhu cầu về giải pháp phần mềm
Quản lý hoạt động trong kho tốt không những tiết kiệm diện tích, tiết kiệm chi phí mà sẽ giúp nâng cao dịch vụ khách hàng. Giải pháp quản lý vận hành Kho Hàng, trang thiết bị (WCS) đã được đầu tư với tỷ lệ 20.8% và sẽ tăng 22.6% trong tương lai. Hoạch định/dự báo nhu cầu khách hàng sẽ là xu hướng đầu tư tăng cao nhất trong nhóm nhu cầu cùng loại với tỷ lệ 22.6%. Với thực tế dự báo kém, các doanh nghiệp Việt Nam đã lãng phí biết bao tiền của vào tồn kho ngất ngưỡng hoặc để đối thủ chiếm mất khách hàng khi hàng không đủ trên Kệ Chứa Hàng.
Nhu cầu về đào tạo
Việc khủng hoảng kinh tế sẽ tiếp tục kéo dài đến năm 2012, việc sở hữu những chiến binh tinh nhuệ, nhạy và can đảm để chiến đấu trong cuộc chiến dành khách hàng là một trong những yếu tố quan trọng mà doanh nghiệp cần đầu tư. Nhu cầu bắt buộc đào tạo học và hành sẽ tăng theo xu hướng đào tạo riêng về quản trị Logistics dành cho doanh nghiệp sẽ tăng 16% bên cạnh việc đào tạo đại trà chiếm 19.8% và đào tạo có chứng chỉ của các tổ chức uy tín đặc biệt là APICS chiếm 17%.
 

Thứ Tư, 9 tháng 5, 2012

Giải pháp quản trị chuỗi cung ứng hiệu quả(tt)

Hệ thống Kệ Chứa Hàng
Ước tính Việt Nam có phần lớn (khoản 70-80%) các Kho Hàng và trung tâm phân phối không hiện đại, kém hiệu quả. Với nhóm đối tượng được khảo sát thì đa số họ sở hữu Kho Hàng và trung tâm phân phối tương đối tốt với việc đầu tư Hệ thống Kệ Kho Hàng cao tầng (3-7 tầng, Kệ Selective, Kệ Drive-in) sẽ tiếp tục đầu tư thêm 9.4% nữa trong tương lai. Bên cạnh đó, Hệ thống Kệ Di Chuyển được (removal racking system) sẽ tăng 7.5%; Hệ thống Kệ Kho Hàng lưu trữ và lấy hàng tự động AS/RS sẽ tăng 8.5%; Hệ thống băng truyền phân loại tự động sẽ tăng thêm 12.3%.
  Bảng 6: Hệ Thống Kệ Kho Hàng
Hệ thống vận chuyển nội bộ
Xe nâng hạ folk-lift, các hệ thống, thiết bị nâng hạ điều khiển dock (dock leveler, bumper…) và Xe Nâng hạ tay handlift đã được đầu tư với tỷ lệ khá cao lần lượt là 29.2%: 26.4%: 25.5%. Các nhu cầu đầu tư vào hệ thống vận chuyển nội bộ sẽ tiếp tục trong tương lai với việc đầu tư vào các hệ thống, thiết bị nâng hạ điều khiển dock (dock leveler, bumper…) và Xe Nâng hạ tay handlift là 12.3% và thấp nhất là Xe Nâng Hạ dạng reach truck: xe dùng để nâng hạ pallet từ các Kệ Chứa Hàng cao (3-7 tầng) do nhu cầu này đã được đầu tư cao nhất trong hiện tại.
Hệ thống đọc mã vạch, nhận dạng
Phần lớn các doanh nghiệp được khảo sát đã đầu tư vào hệ thống barcode. Tuy nhiên, nhu cầu đầu tư vào công nghệ RFID được dự kiến sẽ tăng 12.3% trong tương lai bên cạnh công nghệ Nhận Dạng Tiếng Nói là 9.4%.
 
Hệ thống thiết bị phục vụ đóng gói
Các doanh nghiệp khảo sát đã tự đầu tư vào thiết bị đóng gói và dán nhãn với tỷ lệ 21.7% và 18.9%. Xu hướng đầu tư này sẽ tiếp tục tăng thêm 18.9% ở nhóm Thiết Bị Đóng Gói và 19.8% ở Máy Dán Nhãn.
Thiết bị trong sản xuất
Với đa số các doanh nghiệp có doanh thu trên 100 tỷ hàng năm, họ đã đầu tư vào việc tư động hóa để tối ưu việc sản xuất và quản lý. Nhóm thiết bị được đầu tư cao nhất là Hệ thống robot và hệ thống tự động hóa sản xuất chiếm 14.2%. Xu hướng trong tương lai, nhóm nhu cầu này sẽ tăng khi đầu tư vào hệ thống Kaban và tự động hóa sản xuất đều chiếm tỷ lệ ngang nhau là 16%.
Các hệ thống thiết bị khác
Yếu tố an toàn vẫn được ưu tiên đặt lên hàng đầu khi các doanh nghiệp đều đã trang bị hệ thống cứu sinh, cứu hỏa 28.3%. Tuy nhiên, nhu cầu này vẫn chưa được đầu tư đúng mức khi nhu cầu của tương lai chỉ tăng thêm 12.3%. Hệ thống làm vệ sinh Kho Hàng sẽ tiếp tục phát triển khi dự kiến sẽ được đầu tư thêm 18.9%.
Hết phần 2, Phần 3 đang được Navavina - Nhà cung cấp Kệ Kho Hàng, Kệ Đa Năng, Kệ Khuôn chất lượng chỉnh sửa :)
Sưu tầm bởi Kệ Chứa Hàng NavaVina, nguồn VietNam Supply Chain Insight
   
  

Thứ Hai, 7 tháng 5, 2012

Giải pháp nào để quản trị chuỗi cung ứng hiệu quả ?

Bất cứ doanh nghiệp nào cũng biết, có được một cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt và các giải pháp phần mềm hợp lý sẽ nâng cao hiệu suất khai thác và năng lực cạnh tranh trên thị trường. Không nằm ngoài nhận thức chung đó, tháng 6/2011 vừa qua, tạp chí Vietnam Supply Chain Insight (VSCI) đã thực hiện một cuộc khảo sát về “Nhu cầu các giải pháp phục vụ quản trị chuỗi cung ứng và logistics ở Việt Nam”. Đây là khảo sát được thực hiện định kỳ hàng năm của tạp chí VSCI nhằm mục tiêu nghiên cứu nhu cầu của các doanh nghiệp tại Việt Nam về giải pháp “phần cứng và phần mềm” trong quản trị chuỗi cung ứng và logistics, bao gồm từ nhu cầu tìm hiểu về các hệ thống công nghệ thông tin, trang thiết bị điện tử, các công nghệ quản lý mới, các hệ thống Kệ Kho Hàng, hệ thống Kệ Chứa Hàng, hệ thống vận chuyển nội, xe tải trong các lĩnh vực sản xuất, phân phối, bán lẻ, cung cấp dịch vụ logistics…
khảo sát theo doanh số
Đối tượng tham gia khảo sát
Cuộc khảo sát được tiến hành thông qua hình thức gửi email trực tiếp đến các nhà lãnh đạo, quản lý cao cấp của hơn 500 công ty sản xuất, phân phối/bán lẻ, công ty cung cấp dịch vụ logistics hàng đầu Việt Nam. Khảo sát được thực hiện trong vòng 02 tháng và đã nhận được sự hưởng ứng tích cực của 297 công ty, trong đó các công ty hàng tiêu dùng, thực phẩm/thức uống, dịch vụ logistics chiếm tỷ lệ khá cao. Các công ty tham gia trả lời thuộc nhóm công ty có doanh thu hàng năm từ 10 đến hơn 100 tỷ đồng (xem bảng 1), quy mô lớn với diện tích kho hàng trên 10,000m2 chiếm 48.1% và người đại diện trả lời giữ các vị trí quan trọng như Tổng Giám Đốc, Giám Đốc Điều Hành, Giám Đốc Chuỗi Cung Ứng, Giám Đốc Logistics.
Tóm tắt
So với kết quả khảo sát năm 2010, ảnh hưởng của việc khủng hoảng kinh tế, năm 2011 nhu cầu đầu tư sụt giảm đáng kể. Các doanh nghiệp tận dụng cơ hội và thời gian để đầu tư vào năng lực phát triển cốt lõi là phát triển nguồn lực thông qua các khóa đào tạo phổ biến về quản trị Logistics cho nhân viên chuyên trách chiếm tỷ lệ cao nhất so với nhu cầu cùng loại là 19.8%; tư vấn, cải tiến hoạt động quản lý chuỗi cung ứng cụ thể, nhu cầu tư vấn triển khai CNTT chiếm tỷ lệ cao nhất (chiếm 21.7%); các giải pháp phần mềm Hoạch định/dự báo nhu cầu khách hàng, Quản lý vận hành kho, trang thiết bị (WCS); Quản lý kho (WMS) chiếm tỷ lệ quan tâm đầu tư cao nhất là 22.6%.
phương tiện vận tải
Hệ thống quản lý vận tải
Hệ thống Quản lý vận tải (TMS) đã được đầu tư cao nhất trong nhóm nhu cầu cùng loại (chiếm 25.5%) và nhu cầu này vẫn sẽ tiếp tục tăng thêm 12.3% trong thời gian tới bên cạnh việc đầu tư vào Hệ thống tối ưu hóa lịch trình, tuyến đường và Hệ thống giám sát, kiểm soát có ứng dụng hệ thống định vị toàn cầu GPS
quản lý vận tải
Hết phần 1, Phần 2 đang được Navavina - Nhà cung cấp Kệ Kho Hàng, Kệ Đa Năng, Kệ Khuôn chất lượng chỉnh sửa.

Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2012

Hệ thống quản lý kho hàng - Lợi thế cạnh tranh Amazon

Việc Amazon quyết định tự xây dựng hệ thống lưu kho bãi là một quyết định không mấy dễ dàng. Với giá trị khoảng 50 triệu USD cho mỗi Kho hàng, việc xây dựng và vận hành hệ thống nhà kho và hệ thống Kệ Chứa Hàng quả là tốn kém. Để có thể kinh doanh thành công, Amazon phải phát hành 2 tỷ USD trái phiếu công ty. Thế là có vẻ như Bezos không phải đang xây dựng một công ty dot.com đích thực vì hãng lại có hệ thống nhà kho hữu hình như công ty bán lẻ thông thường. Nhiều nhà đầu tư bắt đầu phê phán mô hình kinh doanh của Amazon là không khác gì các công ty bán lẻ truyền thống, chỉ khác mỗi chỗ là có một trang web ấn tượng hơn mà thôi.
Tuy nhiên, nếu ai đó đến thăm quan 6 nhà kho của Amazon ngày nay, người ta có thể dễ dàng nhận ra các nhà đầu tư đã sai lầm khi phê bình mô hình này của Bezos. Các kho hàng của Amazon không hề giống với các kho hàng truyền thống mà được tin học hoá cao độ. Các nhà kho của Amazon sử dụng công nghệ cao đến nỗi chúng đòi hỏi rất nhiều dòng mã hoá để vận hành và phức tạp không kém trang web của Amazon. Máy tính bắt đầu quy trình bằng cách gửi tín hiệu thông qua mạng không dây tới cho công nhân để họ biết cần phải lấy thứ gì xuống khỏi giá; sau đó họ đóng gói mọi thứ theo trình tự để gửi đi. Trong quá trình gửi hàng, máy tính tạo ra vô số dòng dữ liệu từ những sản phẩm bị đóng gói sai tới thời gian chờ đợi và các nhà quản lý có nhiệm vụ phải theo dõi sát sao hệ thống dữ liệu này. Bezos thường đi thăm mỗi nhà kho một tuần liền vào quý cuối năm. Đối với các nhân viên thì thời gian này quả là vất vả khi ông chủ tới thăm họ. Bezos đặt ra hàng loạt câu hỏi về hệ thống giải thuật để xử lý đơn hàng, tốc độ xử lý năng suất, và không bao giờ vừa lòng khi chưa có câu trả lời thoả đáng.
Để đáp lại, các nhà quản lý của Amazon ở bộ phận lưu kho phải nỗ lực hết sức để đẩy năng suất lên cao tới tối đa. Chẳng hạn bằng việc tái thiết kế hệ thống chuyển hàng trên băng chuyền tự động, Amazon đã có thể tăng năng suất của một kho lên 40%. Trong 3 năm qua, chi phí vận hành các nhà kho của Amazon đã giảm từ 20% doanh thu xuống còn chưa đầy 10% doanh thu. Thậm chí ngay cả ban quản trị công ty cũng không thể tin được vào thành tích này. Các nhà kho của Amazon vận hành hiệu quả đến nỗi tỷ lệ luân chuyển hàng mới của các nhà kho này đạt 20 lần/năm. Tất cả các công ty bán lẻ khác chỉ đạt con số dưới 15 lần/năm. Trên thực tế, một trong những thế mạnh lớn nhất hiện nay của Amazon là năng lực quản lý hàng tồn kho, và thậm chí Amazon còn được các công ty bán lẻ khác giao toàn bộ hoạt động kinh doanh thương mại điện tử của mình cho Amazon thầu phụ, như trường hợp các hãng bán lẻ Toys R Us và Target.
Sưu tầm bởi Kệ Selective Navavina

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2012

Giới thiệu phân hệ quản lý kho hàng của erp

Giới thiệu phân hệ quản lý kho hàng của erp


Một phân hệ hoàn chỉnh, cung cấp đầy đủ các thông tin về hàng hóa, nguyên vật liệu, sản phẩm trên toàn bộ hệ thống kho của công ty. Doanh nghiệp có bao nhiêu kho tùy ý, nhưng sẽ không có gì bị bỏ quên. Phân hệ này là công cụ hỗ trợ đắc lực cho nhiệm vụ nhập, xuất, di chuyển nội bộ, kiểm kê và thực hiện các chức năng nghiệp vụ theo yêu cầu của doanh nghiệp.
CÁC CHỨC NĂNG CƠ BẢN
Mô tả hệ thống kho hàng theo nhiều thông số, nhiều cấp độ
Cho phép mô tả hệ thống kho hàng của doanh nghiệp theo nhiều cấp độ, mỗi kho có thể phân chia không giới hạn thành các đơn vị lưu trữ có cấp nhỏ hơn như ngăn, dãy, ô,… tùy thuộc nhu cầu quản lý kho của doanh nghiệp.
Các đơn vị lưu trữ khi được thiết lập, ngoài thông tin chung (tên và mã) còn có các thông số mô tả khác như:
- Thông tin về vị trí (loại vị trí, tọa độ).
- Thông tin về thể tích lưu trữ.
- Thông tin chi tiết về tải trọng và đặc điểm mô tả.
- Quy định mức lưu trữ tối thiểu, tối đa cho từng loại hàng hóa.
- Thông số kỹ thuật kho để đảm bảo yêu cầu bảo quản hàng hóa.
- Bạn có thể tham khảo chi tiết các loại kệ chứa hàng của navavina để biết về thông số cụ thể
Quản lý danh mục hàng hóa
Ghi nhận và lưu trữ chi tiết các thông tin liên quan đến mô tả hàng hóa:
- Đơn vị tính.
- Tiêu chuẩn chuẩn chất lượng.
- Nhãn hiệu.
- Nhà sản xuất.
- Xuất xứ hàng hóa.
- Loại hàng hóa.
- Quy cách đóng gói.
- Đặc tính kỹ thuật.
Thực hiện nghiệp vụ nhập xuất kho thông thường, theo kế hoạch hoặc theo yêu cầu
Hoạt động xuất nhập kho được tổ chức theo 3 hình thức:
- Xuất nhập kho thông thường: phát sinh phiếu xuất nhập kho khi có nhu cầu lưu trữ và sử dụng hàng hóa.
- Xuất nhập kho theo kế hoạch: thực hiện xuất nhập kho theo kế hoạch do bộ phận quản lý kho thiết lập trước.
- Xuất nhập kho theo yêu cầu: xuất nhập kho theo yêu cầu từ các bộ phận khác như: sản xuất, cung ứng,…
Các chức năng hỗ trợ nghiệp vụ xuất nhập kho
- Phát sinh phiếu xuất nhập kho theo các hình thức khác nhau.
- Thiết kế phiếu mẫu hỗ trợ nhập liệu nhanh chóng.
- Thực hiện in ấn và thiết kế phiếu.
- Số phiếu phát sinh tự động theo định dạng do người dùng thiết lập, cho phép lặp lại số phiếu sau một khoảng thời gian quy định.
- Cho phép thực hiện phân bổ hàng nhập vào các ngăn sau khi lập phiếu nhập kho.
- Hiển thị tồn kho hàng hóa khi phân bổ hàng xuất.
- Theo dõi hàng hóa xuất nhập theo từng lô hàng, đơn hàng.
Tự động xác định hàng tồn kho và đơn giá xuất kho theo các phương pháp
Tồn kho hàng hóa sẽ tự động phát sinh tức thời theo các nghiệp vụ xuất nhập kho. Phân hệ thiết lập và cho phép người dùng lựa chọn các phương pháp xác định tồn kho:
- Nhập trước xuất trước (FIFO).
- Nhập sau xuất trước (LIFO).
- Bình quân đầu kỳ.
- Bình quân tức thời.
Người dùng có thể lựa chọn quy tắc tồn kho:
- Cho phép tồn kho âm.
- Hay không cho phép tồn kho âm: trong trường hợp này phân hệ sẽ cảnh báo khi xuất kho quá mức tồn kho hiện tại.
- Đơn giá xuất kho tự động phát sinh theo các phương pháp và cách phân bổ hàng xuất kho.
Thể hiện thông tin tồn kho tức thời:
- Theo hệ thống kho: tồn kho của từng loại hàng hóa sẽ hiển thị theo từng đơn vị lưu trữ (ngăn), lượng tồn kho của các ngăn cấp thấp sẽ được tổng hợp thành mức tồn kho của ngăn có cấp cao hơn.
- Theo đơn đặt hàng: thể hiện mức tồn kho của các hàng hóa được dành riêng để thực hiện các đơn hàng, lô hàng xác định.
- Thực hiện tổng kết kỳ để ghi nhận và lưu trữ thông tin tồn kho tại các thời điểm cuối kỳ (tháng, quý, năm).
Báo động hàng tồn kho
- Báo động hàng tồn kho vượt quá giới hạn mức lưu trữ quy định.
- Báo động hàng tồn kho sắp hết hạn sử dụng.
- Thiết lập khoảng thời gian cảnh báo trước khi hết hạn.
- Danh sách hàng hóa sắp hết hạn sử dụng.
- Theo dõi hàng quá hạn sử dụng.
Lên kế hoạch và ghi nhận thông tin về các dịch vụ bảo quản kho:
- Lập kế hoạch sử dụng dịch vụ bảo quản kho.
- Phát sinh phiếu sử dụng dịch vụ.
- Danh sách các dịch vụ đã thực hiện.
Lên kế hoạch và ghi nhận thông tin kiểm kê kho
Phát sinh và ghi nhận thông tin về các đợt kiểm kê hàng hóa.
Lập phiếu theo dõi hoạt động kiểm kê gồm:
- Danh sách hàng hóa kiểm kê với số lượng tồn kho tính toán, cho phép ghi nhận thông tin số lượng hàng theo kiểm kê, tính toán chênh lệch kiểm kê, ghi nhận biện pháp xử lý chênh lệch.
- Danh sách nhân viên tham gia kiểm kê.
Hệ thống báo cáo phân tích tình hình tồn kho hàng hóa
Hệ thống báo cáo được hiển thị theo dạng bảng và đồ thị, thuận tiện cho việc phân tích.
- Sổ chi tiết hàng hóa.
- Các báo cáo cân đối hàng hóa theo số lượng, theo giá trị.
- Các báo cáo tổng hợp vật tư xuất nhập.
- Các loại bảng kê phiếu xuất nhập kho.
- Các báo cáo về tình hình sử dụng kho.

Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2012

Vì sao chi phí Logistic cao?

Tại VN, chi phí logistics chiếm khoảng 25% GDP, trong đó vận tải chiếm khoảng 50 - 60%, quá cao so với thế giới.

Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), chi phí logistics trung bình chiếm 12% tổng sản phẩm nội địa thế giới. Tại Mỹ, chi phí logistics chiếm 9,9% GDP. Đối với các DN, chi phí logistics thay đổi từ 4% đến trên 30% doanh thu.

Chưa chú trọng vai trò

Thực trạng hiện nay cho thấy, nhiều Cty VN chưa phát huy hết những lợi thế do logistics đem lại, thậm chí có DN chưa nhìn thấy vai trò hết sức quan trọng của logistics trong việc giảm chi phí sản xuất kinh doanh. Logistics có liên hệ chặt chẽ giữa marketing, sản xuất, tồn kho, vận tải và phân phối. Thế nhưng, nhiều DN bố trí chức năng vận tải nằm trong phòng hành chính, quản trị tồn kho thì lại nằm trong phòng kế toán - tài chính, còn chức năng thu mua thì lại trực thuộc phòng marketing hay bán hàng... Việc tổ chức rời rạc các phòng chức năng như thế khiến DN quản lý các chức năng này cũng rời rạc. Vì vậy, cần phải hình thành một bộ phận riêng biệt cho logistics/chuỗi cung ứng để các nhà quản trị bộ phận này có thể phối hợp chặt chẽ với các chức năng khác. Tại VN, hàng hóa phải đi qua quá nhiều trung gian, từ khâu cung ứng nguyên liệu cho sản xuất, đến khâu phân phối hàng hóa tới tay người tiêu dùng, làm tăng chi phí giao dịch, tăng giá bán. Trong chuỗi này, các bên tham gia đều cố gắng trục lợi cho chính mình, và vì thiếu thông tin, nên các thành viên trong chuỗi chỉ biết có bên quan hệ trực tiếp với DN mình mà chẳng biết đến các thành viên khác và kết quả là thổi phồng chi phí logistics. Mặt khác, hệ thống phân phối tập trung vào các đô thị là chủ yếu, mà lại bỏ ngõ phần nông thôn. Nhà phân phối chỉ đảm trách vận tải cự lý ngắn và các đại lý phải tự lo vấn đề vận tải của mình. Hơn nữa, việc bố trí mạng lưới bán lẻ thì tương đối dày đặc ở các khu trung tâm đô thị, trong khi đó các kho bãi lớn thì ở quá xa, và vì phần lớn các DN cũng chưa ý thức được vai trò của mỗi loại kho hàng như sơ cấp, thứ cấp, và kho trung tâm nên kết quả hoặc là chi phí vận tải thấp nhưng chi phí nắm giữ tồn kho cao hay ngược lại, mà một trong hai điều này cũng làm tăng tổng phí logistics. Một vấn đề đáng quan tâm nữa là, DN chưa có thói quen sử dụng các dịch vụ thuê ngoài như đại lý khai thuê hải quan, đại lý kế toán và các dịch vụ thuê ngoài 3PL - mà chủ yếu tự làm. Khi DN tự làm dịch vụ, tự đầu tư xây dựng hệ thống kệ chứa hàng hay mua sắm phương tiện vận tải sẽ cần rất nhiều vốn đầu tư và khó đạt đến trình độ chuyên nghiệp. Trong khi khả năng khai thác thấp, vì thế chậm thu hồi vốn, không hiệu quả và chi phí logistics tăng cao. Ngành logistics nước ta đang phát triển rất mạnh và nhiều DN cung ứng dịch vụ logistics đang tiến đến mức độ chuyên nghiệp hóa rất cao. Càng chuyên nghiệp hóa trong việc cung ứng dịch vụ thì chi phí logistics càng giảm. Vấn đề là DN có chú trọng có đến vai trò của logistics để giảm chi phí sản xuất hay không ?

Hạ tầng cơ sở còn yếu kém

Nước ta hiện có trên 17.000 km đường nhựa, hơn 3.200 km đường sắt, 42.000 km đường thủy, 266 cảng biển và 20 sân bay. Tuy nhiên, chất lượng của mạng lưới giao thông không đồng bộ, nhiều nơi tiêu chuẩn kỹ thuật chưa đảm bảo an toàn trong giao thông. Tuy có 266 cảng biển, nhưng chỉ có 20 cảng biển có thể tham gia vào việc xuất nhập hàng hóa quốc tế. Đa số các cảng này chưa thể tiếp nhận các tàu container thông thương vì chưa đủ thiết bị cũng như kinh nghiệm bốc dỡ container... Về phương thức vận tải, vận tải bằng đường hàng không chưa được phổ biến, mà chủ yếu bằng phương tiện vận tải đường bộ. Tuy vậy, như đã nêu, hệ thống giao thông này không thể được sử dụng cho vận tải hàng hóa nặng bởi đường hẹp, chất lượng kỹ thuật chưa cao, và năng lực vận tải quá thấp, trình trạng kẹt xe thường xuyên diễn ra. Nhiều khu công nghiệp xây dựng xong, nhưng chưa có đường giao thông hoặc các khu công nghiệp bố trí quá xa hệ thống cảng biển, làm chi phí vận chuyển hàng hóa tăng lên. Vận tải đường sắt hiện nay chỉ chở hành khách là chủ yếu. Với hệ thống hai khổ ray khác nhau (1 m và 1,43 m), phương tiện vận tải này không thể được dùng để vận tải hàng hóa trọng lượng cao và mất rất nhiều thời gian (chuyến đường sắt Bắc - Nam mất đến 32 tiếng đồng hồ). Vận tải đường thủy chủ yếu bằng xà lan, chi phí thấp, an toàn, ít xảy ra tai nạn, nhưng thời gian vận chuyển lâu và khách hàng vẫn chưa mặn mà với hình thức vận chuyển này. Ngoài ra, sự kết hợp các phương thức vận tài khác nhau (vận tải đa phương thức) để kết hợp các ưu điểm của từng phương thức vận tải cũng chưa phổ biến ở VN. Vì những lý do đó, tổng phí logistics (phần lớn là chi phí vận tải) rất cao là lẽ đương nhiên. Tình hình này dẫn đến giá bán lẻ trên toàn quốc rất khác nhau. Một xu hướng chung của các DN VN (và các DN xuất khẩu nói riêng) là không muốn lấy rủi ro, nên giá bán hàng hóa chỉ dựa trên giá bán FOB nguyên xứ (FOB origin), tức bán ra từ nhà máy, mà không bao gồm chi phí vận tải, trong khi đó, để cho giá bán lẻ đồng nhất trên toàn quốc, cần phải áp dụng giá bán FOB đáo xứ (FOB destination), tức giá hàng hóa cộng thêm chi phí vận tải trung bình từ nơi bán cho đến kho của khách hàng, để chi phí cập bến (landed costs) giống nhau. Vì thế để giảm chi phí sản xuất cho DN, hạ được giá thành sản phẩm, cần thiết phải giảm chi phí logistics. Chi phí logistics nước ta năm 2011, ước tính hơn 25 tỉ USD. Như vậy, nếu chỉ giảm được 1% chi phí đó sẽ làm lợi cho DN, cho đất nước một số tiền không nhỏ.

Thứ Tư, 25 tháng 4, 2012

Tổng quan về Pallet - Pallet là gì (P1)

Pallet (còn được gọi tấm kê hàng) là một kết cấu bằng phẳng để tải hàng hóa sử dụng chung với kệ chứa hàng để lưu trữ hoặc được nâng chuyển bởi xe nâng tay, xe nâng máy hoặc thiết bị nâng hạ khác. Một pallet là một đơn vị cấu trúc nền cho phép xử lý và lưu trữ hiệu quả. Hàng hoá mà vận chuyển trong container thường được đặt trên pallet có bảo đảm vững chắc bằng cách đóng đai, quấn bọc căng hay co lại và vận chuyển.
thường là pallet gỗ nhưng pallet cũng được làm từ các chất liệu khác như: nhựa, sắt, giấy và mỗi loại nguyên liệu có những ưu và nhược điểm khác nhau (Xem phần “tuân thủ kiểm dịch thực vật” và “Vật liệu sử dụng” ở dưới). Container cho vận tải đã thúc đẩy việc sử dụng các pallet vì vận chuyển container nếu sử dụng pallet thì hàng hóa sẽ sạch sẽ và bốc dỡ lên container nhanh chóng và dễ dàng. Hầu hết các pallet có thể dễ dàng chứa đựng một tải trọng từ 1.000 kg (£ 2205). Ngày nay, hơn 2.5 tỉ pallet được sản xuất mỗi năm và khoảng mười tỷ pallet được sử dụng trên toàn thế giới. Pallet làm cho nó dễ dàng hơn để di chuyển nhiều hàng hóa nặng cùng một lược.Tải trọng đó với pallet theo chúng có thể được kéo bởi xe nâng của các kích cỡ khác nhau, hoặc thậm chí bằng tay, xe nâng tay hoặc bằng các loại xe chuyên dụng về pallet. Một xe nâng có thể có giá giống như một ô tô sang trọng, nhưng nếu một xe nâng tay chi phí chỉ có vài trăm đô la. Những doanh nghiệp sử dụng pallet tiêu chuẩn xếp dỡ có thể có chi phí thấp hơn nhiều để xử lý và lưu trữ hàng hóa của họ và vận chuyển nguyên vật liệu nhanh hơn nhiều so với các doanh nghiệp không sử dụng. Các trường hợp ngoại lệ là cơ sở di chuyển các mục nhỏ như đồ trang sức hay vật lớn như xe hơi. Nhưng thậm chí chúng có thể được cải thiện. Ví dụ, các nhà phân phối đồ trang sức trang phục thường sử dụng pallet với kệ chứa hàng của họ và các nhà sản xuất xe sử dụng pallet để di chuyển linh kiện, phụ tùng. Việc thiếu một tiêu chuẩn quốc tế riêng cho pallet gây nên yếu tố chi phí tăng đáng kể trong thương mại quốc tế. Một tiêu chuẩn riêng lẻ là khó khăn vì có nhiều loại yêu cầu một pallet tiêu chuẩn sẽ phải đáp ứng: Phù hợp với cửa ra vào, phù hợp trong các container tiêu chuẩn, và mang lại chi phí lao động thấp.

Lịch Sử phát triển của Pallet:

Pallet được từ từ được giới thiệu trong suốt đầu thế kỷ 20, hộp gỗ, thùng, thùng, thường được sử dụng để bảo vệ, lưu trữ và vận chuyển hàng hóa. Tiền thân của pallet gỗ hiện đại là một tấm kê hàng đơn giản chỉ gồm các thanh đố dài gắn chặt vào một lớp bề mặt bên trên. Nó đầu tiên xuất hiện trong các nhà máy của Mỹ cùng với xe nâng thấp.Một xe nâng tay thô sơ được phát minh vào năm 1887 và tân tiến, lâu bền hơn, với tất cả bằng sắt thép là chiếc xe nâng máy được giới thiệu vào năm 1909. Xe nâng máy tiên tiến đầu tiên xuất hiện vào năm 1915. Với sửa đổi hơn nữa trong năm 1919, các xe nâng có thể nâng vật nặng vài feet cao và có các cải tiến khác bao gồm thiết kế càng và nĩa. Sự xuất hiện của càng và nĩa cũng trong khoảng thời gian tương tự cho phép phạm vi vùng nâng và xử lý lớn hơn nhiều các nguyên vật liệu. Một phát triển khác là khả năng mới của các càng xe nâng máy có thể dịch chuyển qua lại và tiến về phía trước và quay lại, độc lập với cơ chế nâng. Những phát triển này, cùng với sự xuất hiện của các pallet hai mặt trong thời gian đó, cho ra công nghệ nâng hiện đại. Vào đầu năm 1926, bản chất của các xe nâng hiện đại đã được phát triển. Bây giờ, pallet không còn đơn giản chỉ là một phương tiện di chuyển nguyên vật liệu trong nhà máy. Xe nâng cao to đã thực hiện nâng xếp các pallet theo chiều dọc, thành từng chồng lên các phương tiện vận tải và sẽ được duy chuyển đến các kho khác của đối tác. . Như vậy, pallet được phát triển trong các giai đoạn. Đầu tiên, Chỉ miếng đệm đã được sử dụng giữa hàng hóa và mặt đất cho phép càng nâng có thể đưa vào trong và bên dưới để nâng hàng hóa, tiến tới là sự phát tiển của các tấm kê hàng liên kết với các miếng đệm đó, tạo thành pallet thô sơ (pallet một mặt). Sau cùng, Sự phát triển thêm các thanh liên kết ở bên dưới pallet để tạo ra một kết cấu vững chắc cho pallet. Pallet có thể nâng được hàng hóa với tải trọng nặng hơn nhiều, hoặc khi chồng lên nhau thì hàng hóa ở bên dưới ít bị hư hỏng,… Việc bổ sung các thanh dưới của pallet xuất hiện bởi năm 1925, kết quả là hình thức hiện đại của pallet. Với các tầng dưới, một số vấn đề chung cho pallet phải đối mặt với đơn đã được giải quyết. Ví dụ, các bảng dưới cung cấp phân phối trọng lượng tốt hơn và thiệt hại sản phẩm giảm, chúng cũng cung cấp tốt hơn sức mạnh và độ cứng khi xếp chồng. Từ đó, các nhà sản xuất xe nâng máy phát huy ý tưởng tận dụng nhiều diện tích và không gian theo phương thẳng đứng một nhà máy để lưu trữ hàng hóa với kệ chứa hàng được nhiều hơn và khoa học hơn.
Sưu tầm Pallet BachKhoa

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2012

Sản phẩm Kệ Chứa Hàng Drive-In của NavaVina

Sản phẩm Kệ Drive-In của Navavina - Nhà cung cấp Kệ Drive-In, Kệ Chứa Hàng chất lượng
Đặc tính kỹ thuật:
- Tiết kiệm diện tích
- Lưu trữ hàng hóa với mật độ cao
- Tải trọng: 500kg/pallet hoặc hơn
- Nguyên lý xuất - nhập hàng (LIFO)
- Kệ liên kết móc ngàm, tháo lắp dễ dàng

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2012

Sản phẩm Kệ Double Deep của Navavina

Sản phẩm Kệ Double Deep của Navavina - Nhà cung cấp Kệ Double Deep, Kệ Chứa Hàng chất lượng
Đặc tính kỹ thuật Kệ Double Deep
- Tăng không gian chứa hàng
- Sử dụng xe nâng chuyên dùng
- Tải trọng : 500kg/pallet hoặc hơn
- Nguyên lý xuất - nhập hàng (LIFO)
- Có liên kết móc ngàm, tháo lắp dễ dàng

Thứ Tư, 18 tháng 4, 2012

Sản phẩm Kệ Selective của Navavina - Nhà cung cấp Kệ Selective, Kệ Chứa Hàng chất lượng

Sản phẩm Kệ Selective của Navavina - Nhà cung cấp Kệ Selective, Kệ Chứa Hàng chất lượng
Đặc tính kỹ thuật của Kệ Selective
- Dễ dàng xếp hàng lên mặt kệ
- Tải trọng : 500kg/pallet hoặc hơn
- Nguyên lý xuất - nhập hàng (FIFO)
- Liên kết móc ngàm, tháo lắp dễ dàng

Thứ Hai, 16 tháng 4, 2012

Sản phẩm Kệ Trung Tải của NavaVina

Sản phẩm Kệ Trung Tải của Navavina - Nhà cung cấp Kệ Trung Tải, Kệ Chứa Hàng chất lượng.
Đặc tính kỹ thuật:
- Hàng hóa xếp dở bằng tay , hoặc xe thang di động.
- Tải trọng : 200 – 700Kg / 1tầng.
- Mặt Kệ thiết kế bằng ván hoặc mâm tole cuốn cạnh
- Toàn bộ khung thép liên kết ngàm dể tháp ráp

Thứ Năm, 12 tháng 4, 2012

Sản phẩm Kệ Trượt của NavaVina

Sản phẩm Kệ Trượt của Navavina - Nhà cung cấp Kệ Trượt, Kệ Chứa Hàng chất lượng.
Đặc tính kỹ thuật:
- Thường áp dụng cho kho chứa linh kiện nguyên phụ liệu
- Dẫn động bằng các con lăn
- Tải trọng : trên 300kg/tầng
- Kệ liên kết móc ngàm, tháo lắp dễ dàng.
Các bạn có thể tham khảo thêm sản phẩm Kệ Kho khác của NavaVina tại website của công ty: www.navavina.com.vn

Thứ Hai, 9 tháng 4, 2012

Giới thiệu về NAVAVINA - Nhà cung cấp kệ chứa hàng uy tín và chất lượng

Với nhu cầu đáp ứng thị trường ngày càng cao về các sản phẩm Kệ Chứa Hàng… Công ty TNHH Navavina chính thức được thành lập. Chúng tôi hoạt động với mục tiêu: chất lượng sản phẩm và dịch vụ tốt nhất.

Đội ngũ sale là những người đã có kinh nghiêm 3-5 năm và đã từng tham gia các dự án cung cấp Kệ Kho lớn như: DRB, HoaLien Fashion, LOCK&LOCK, PTSC, ... Đồng thời đội ngũ thiết kế với 5 năm kinh nghiêm và đội ngũ sản xuất lành nghề dưới sự giám sát của quản lý xưởng với bề dày kinh nghiệm 20 năm trong nghề.

Chúng tôi cam kết sẽ mang đến cho quý khách hàng những sản phẩm ưu việt gắn liền với thương hiệu của công ty. Hãy là bạn đồng hành cùng chúng tôi trên cơ sở hợp tác lâu dài, đôi bên cùng có lợi.